Danh mục: Thuốc tiết niệu, sinh dục
Số đăng ký: 890110019324
Cách tra cứu số đăng ký thuốc được cấp phép✅
Dạng bào chế: Viên nén bao phim
Quy cách: Hộp 3 vỉ x 10 viên
Thành phần: Solifenacin succinate
Nhà sản xuất: Sun Pharmaceutical Industries Limited
Nước sản xuất: Ấn Độ
Xuất xứ thương hiệu: Ấn Độ
Thuốc cần kê toa: Có
Mô tả ngắn: Thuốc Sunvesizen Tablets 10mg của Sun Pharmaceutical Industries Limited, thành phần chính chứa Solifenacin succinate. Thuốc Sunvesizen được chỉ định trong điều trị bệnh bàng quang kích thích với triệu chứng của tiểu không kiểm soát cấp, tiểu lắt nhắt, tiểu gấp.
Lưu ý: Sản phẩm này chỉ bán khi có chỉ định của bác sĩ, mọi thông tin trên Website chỉ mang tính chất tham khảo.
Thuốc Sunvesizen Tablets 10mg là gì?
|
Thông tin thành phần |
Hàm lượng hoạt chất |
|---|---|
| Solifenacin succinate | 10mg |
Tá dược: Lactose khan, Hypromellose, Tinh bột ngô, Magnesium stearate, oxide Sắt (Màu vàng), oxide Sắt (Màu đỏ), Opadry trắng
Solifenacin succinate là một chất đối kháng với muscarinic được chỉ định trong điều trị bệnh bàng quang kích thích với các triệu chứng của tiểu không kiểm soát cấp kỳ, tiểu gấp, tiểu lắt nhắt.
Cơ chế tác dụng
Solifenacin là một thuốc đối kháng cạnh tranh với thụ thể muscarinic. Thụ thể muscarinic đóng một vai trò quan trọng trong nhiều chức năng qua trung gian hệ cholinergic chủ yếu, bao gồm co thắt cơ trơn bàng quang niệu và kích thích tiết nước bọt.
Dược lực học
Điện sinh lý tim
Tác dụng kéo dài khoảng QT đã được báo cáo nhiều hơn ở liều 30mg so với liều 10mg solifenacin. Quan sát này nên được cân nhắc trong các quyết định lâm sàng để kê đơn solifenacin cho những bệnh nhân đã được biết có tiền sử kéo dài khoảng QT hoặc những bệnh nhân đang sử dụng các thuốc được biết làm kéo dài khoảng QT.
Hấp thu
Nồng độ đỉnh trong huyết tương (Cmax) của solifenacin được báo cáo là đạt được trong vòng 3 đến 8 giờ sau khi uống, và trạng thái ổn định dao động trong khoảng 32,3 đến 62,9 ng/ml cho viên nén với liều lần lượt 5mg và 10mg solifenacin. Sinh khả dụng tuyệt đối của solifenacin là khoảng 90% và nồng độ trong huyết tương của solifenacin là tỉ lệ thuận với liều dùng.
Độ tuyến tính/phi tuyến tính: Dược động học là tuyến tính trong khoảng liều điều trị.
Phân bố
Solifenacin gắn kết khoảng 98% (in vivo) với protein huyết tương người, chủ yếu là gắn với alpha1-acid glycoprotein. Solifenacin phân bố cao vào các mô không thuộc hệ thống thần kinh trung ương, thể tích phân bố ở trạng thái ổn định trung bình là 600L.
Chuyển hóa
Solifenacin được chuyển hóa ở gan. Con đường chuyển hóa chính là qua CYP3A4, tuy nhiên, vẫn tồn tại con đường chuyển hóa thay thế khác. Con đường chuyển hóa chính của solifenacin là thông qua sự oxy hóa N của vòng quinuclidin và hydroxyl hóa 4R của vòng tetrahydroisoquinoline. Một chất chuyển hóa có hoạt tính được lý (4R-hydroxy solifenacin) xuất hiện ở nồng độ thấp và dường như không đóng góp đáng kể vào hoạt tính lâm sàng, và 3 chất chuyển hóa không có hoạt tính dược lý (N-glucuronide và N-oxide và 4R-hydroxy-N-oxide của solifenacin) đã báo cáo được tìm thấy trong huyết tương người sau khi uống thuốc.
Bài tiết
Sau khi cho tình nguyện viên khỏe mạnh dùng 10mg solifenacin succinate có đánh dấu phóng xạ C14, 69,2% hoạt tính phóng xạ được báo cáo tìm thấy trong nước tiểu và 22,5% được tìm thấy trong phân trên 26 ngày. Ít hơn 15% liều dùng (như giá trị trung bình) được phục hồi trong nước tiểu dưới dạng solifenacin nguyên vẹn. Các chất chuyển hóa chính được xác định trong nước tiểu là N-oxide của solifenacin, 4R-hydroxy solifenacin và 4R-hydroxy-N-oxide của solifenacin và ở trong phân là 4R-hydroxy solifenacin. Thời gian bán thải của solifenacin sau liều dài hạn là khoảng 45 đến 68 giờ.
Solifenacin succinate có thể uống với nước và nuốt nguyên viên, uống kèm hoặc không kèm với thức ăn.
Liều khuyến cáo của solifenacin succinate là 5 mg × 1 lần mỗi ngày. Nếu liều 5mg bị dung nạp nhiều, có thể tăng lên đến liều 10mg x 1 lần mỗi ngày.
Điều chỉnh liều ở bệnh nhân suy thận
Trên bệnh nhân suy thận nặng, (CLcr <30 mL/phút), không khuyến cáo liều hằng ngày của solifenacin succinate cao hơn 5mg
Điều chỉnh liều ở bệnh nhân suy gan
Trên bệnh nhân suy gan mức độ trung bình (Child-Pugh B), không khuyến cáo liều hằng ngày của solifenacin succinate cao hơn 5mg. Không khuyến cáo sử dụng solifenacin succinate trên bệnh nhân suy gan nặng (Child-Pugh C)
Điều chỉnh liều ở bệnh nhân đang sử dụng thuốc ức chế CYP3A4
Khi sử dụng thuốc ức chế CYP3A4 như ketoconazole, không khuyến cáo liều hằng ngày của solifenacin succinate cao hơn 5 mg
Sử dụng thuốc ở trẻ em
Tính an toàn và hiệu quả của Solifenacin succinate trên bệnh nhi chưa được xác lập.
Sử dụng thuốc ở người cao tuổi
Tính an toàn và hiệu quả tương tự đã được báo cáo giữa bệnh nhân cao tuổi và bệnh nhân trẻ tuổi hơn (<65 tuổi) khi được điều trị bằng solifenacin succinate.
Các nghiên cứu đã báo cáo trên solifenacin succinate chỉ ra rằng ở những tình nguyện viên cao tuổi (65 đến 80 tuổi) có Cmax, AUC và T1/2 cao hơn 20 đến 25% so với các tình nguyện viên trẻ tuổi (18 đến 55 tuổi)
Suy thận
Thận trọng khi sử dụng solifenacin succinate ở bệnh nhân suy thận. Có sự tăng 2,1 lần trên AUC và 1,6 lần trên T1/2 của solifenacin trên những bệnh nhân suy thận nặng. Không khuyến cáo dùng liều solifenacin succinate cao hơn 5mg trên những bệnh nhân suy thận nặng (CL < 30 mL/phút)
Suy gan
Thận trọng khi sử dụng solifenacin succinate ở bệnh nhân suy giảm chức năng gan. Có sự tăng gấp 2 lần trên thời gian bán thải T1/2 và tăng gấp 35% trên AUC của solifenacin trên những bệnh nhân suy gan mức độ trung bình. Không khuyến cáo dùng liều solifenacin succinate cao hơn 5 mg trên những bệnh nhân suy gan mức độ trung bình (Child-Pugh B). Không khuyến cáo sử dụng solifenacin succinate trên những bệnh nhân suy gan nặng (Child-Pugh C)
* Lưu ý: Liều dùng trên chỉ mang tính chất tham khảo. Liều dùng cụ thể tùy thuộc vào thể trạng và mức độ diễn tiến của bệnh. Để có liều dùng phù hợp, bạn cần tham khảo ý kiến bác sĩ hoặc chuyên viên y tế.
Quá liều với solifenacin có khả năng dẫn đến tác dụng kháng cholinergic nặng và cần được điều trị phù hợp. Liều cao nhất của solifenacin succinate bằng đường uống khi quá liều ngẫu nhiên được báo cáo là 280mg trong khoảng thời gian 5 giờ. Trường hợp này liên quan đến những thay đổi về trạng thái tâm thần. Một số trường hợp đã được báo cáo là có sự suy giảm về nhận thức.
Các tác dụng phụ kháng cholinergic không thể chịu đựng được (đồng tử không phản ứng lại với kích thích và giãn đồng tử, mờ mắt, thất bại với thử nghiệm gót chân đến ngón chân - heel-to-toe exam, run và khô da) đã được báo cáo xảy ra vào ngày 3 ở những tình nguyện viên bình thường cho sử dụng thuốc với liều 50 mg mỗi ngày (cao hơn gấp 5 lần liều điều trị khuyến cáo cao nhất) và sẽ hồi phục trong vòng 7 ngày sau khi ngưng thuốc.
Trong trường hợp quá liều với solifenacin, xử trí bằng cách rửa dạ dày và các biện pháp điều trị hỗ trợ. Khuyến cáo theo dõi điện tâm đồ.
Đối với tác dụng kháng cholinergic khác, các triệu chứng có thể được xử lý như sau:
* Các tác dụng kháng cholinergic trung ương nặng như ảo giác hoặc kích thích rõ rệt: điều trị
bằng physostigmine hoặc carbachol.
* Co giật hoặc kích thích rõ rệt: điều trị bằng benzodiazepines.
* Suy hô hấp: điều trị bằng hô hấp nhân tạo.
* Nhịp tim nhanh: điều trị bằng beta-blockers
* Bí tiểu: điều trị bằng đặt ông thông tiểu.
* Giãn đồng tử: điều trị bằng thuốc nhỏ mắt chứa pilocarpine và/hoặc đặt bệnh nhân ở phòng tối.
Cũng như các thuốc kháng muscarinic khác, trong trường hợp quá liều, đặc biệt chú ý bệnh nhân với nguy cơ kéo dài khoảng QT đã được biết (như giảm kali huyết, chậm nhịp tim và dùng đồng thời các thuốc đã được biết làm kéo dài khoảng QT) và các bệnh tim liên quan đã có sẵn từ trước (như là thiếu máu cục bộ cơ tim, loạn nhịp tim, suy tim sung huyết).
Trong trường hợp khẩn cấp, hãy gọi ngay cho Trung tâm cấp cứu 115 hoặc đến trạm Y tế địa phương gần nhất.
Nếu quên dùng một liều thuốc, hãy uống càng sớm càng tốt khi nhớ ra. Tuy nhiên, nếu gần với liều kế tiếp, hãy bỏ qua liều đã quên và uống liều kế tiếp vào thời điểm như kế hoạch. Không uống gấp đôi liều đã quy định.
Các tác dụng bất lợi dự kiến của các tác nhân kháng cholinergic là khô miệng, táo bón, mờ mắt (bất thường về điều tiết mắt), bí tiểu, khô mắt.
Tần suất của các tác dụng không mong muốn của thuốc kháng cholinergic liên quan đến liều dùng. Khô miệng và táo bón đã được báo cáo với tần suất cao hơn trên những bệnh nhân điều trị bằng solifenacin 10mg so với 5mg. Các phản ứng bất lợi thường gặp nhất dẫn đến ngưng tiếp tục điều trị là khô miệng (1,5%)
Các phản ứng bất lợi đã được báo cáo với solifenacin ở 21% các bệnh nhân:
* Rối loạn dạ dày ruột: Khô miệng, Táo bón, Buồn nôn, Khó tiêu, Đau bụng trên, Nôn mửa NOS"
* Nhiễm trùng và nhiễm ký sinh trùng: Nhiễm khuẩn đường tiết niệu NOS, cúm, viêm họng Rối loạn hệ thần kinh trung ương: Choáng váng
* Rối loạn về mắt: Nhìn mờ, khô mắt NOS*
* Rối loạn trên thận và tiết niệu: Bí tiểu
* Rối loạn chung và tình trạng nơi dùng thuốc: Phù chi dưới, Mệt mỏi
* Rối loạn về tâm thần: Trầm cảm NOS
* Rối loạn hô hấp, Lồng ngực và Trung thất: Ho
* Rối loạn về mạch máu: Tăng huyết áp NOS*
*NOS: Not otherwise specified: Không được xác định rõ
Kinh nghiệm hậu tiếp thị
Vì các biến cố này được báo cáo một cách tự phát từ các ghi nhận trên khắp thế giới, tần suất của các biến cố và vai trò của solifenacin trong mối tương quan nhân quả không thể xác định một cách đáng tin cậy. Các vấn đề sau đây đã được báo cáo có liên quan đến việc sử dụng solifenacin trong kinh nghiệm hậu tiếp thị trên toàn thế giới:
* Tổng quát: phù ngoại biên, phản ứng quá mẫn, bao gồm phù mạch cùng tắc nghẽn đường thở, phát ban, ngứa, nổi mày đay và phản ứng phản vệ.
* Thần kinh trung ương: nhức đầu, lú lẫn, ảo giác, mê sảng và buồn ngủ.
* Tim mạch: kéo dài khoảng QT: xoắn đỉnh, rung nhĩ, nhịp tim nhanh, đánh trống ngực.
* Gan: rối loạn về gan chủ yếu được đặc trưng bởi xét nghiệm bất thường chức năng gan, AST (aspartate aminotransferase), ALT (alanine aminotransferase), GGT (gamma-glutamyl transferase).
* Thận: suy thận.
* Rối loạn về chuyển hóa và dinh dưỡng: giảm sự thèm ăn, tăng kali máu.
* Da: viêm da tróc vảy và hồng ban đa dạng.
* Rối loạn về mắt: tăng nhãn áp.
* Rối loạn về dạ dày ruột: bệnh trào ngược dạ dày thực quản và tắc ruột.
* Rối loạn về hô hấp, lồng ngực và trung thất: khó phát âm.
* Rối loạn về cơ xương khớp và mô liên kết: yếu cơ.
Các tác dụng bất lợi khác gồm có:
Viêm bàng quang, rối loạn vị giác, khô mũi, khô họng, khó chịu ở bụng, da khô, khó khăn trong tiểu tiện, phân đông chặt trầm trọng, tắc ruột kết, tắc ruột và phù thần kinh – mạch.
Hướng dẫn cách xử trí ADR
Khi gặp tác dụng phụ của thuốc, cần ngưng sử dụng và thông báo cho bác sĩ hoặc đến cơ sở y tế gần nhất để được xử trí kịp thời.
Trước khi sử dụng thuốc bạn cần đọc kỹ hướng dẫn sử dụng và tham khảo thông tin bên dưới.
Chống chỉ định
Bí tiểu
Ứ dịch dạ dày
Bệnh tăng nhãn áp góc hẹp không được kiểm soát
Bệnh nhân được biết quá mẫn với thuốc hoặc bất kỳ thành phần nào của thuốc
Nhược cơ
Suy gan nặng
Suy thận nặng hoặc suy gan trung bình và những người đang được điều trị bằng chất ức chế mạnh CYP3A4, ví dụ như ketoconazole (xem TƯƠNG TÁC THUỐC).
Chống chỉ định sử dụng solifenacin ở những bệnh nhân đang thẩm phân máu.
Phù mạch và phản ứng phản vệ
Phù mạch ở mặt, môi, lưỡi và/hoặc thanh quản đã được báo cáo với solifenacin. Trong một số trường hợp, phù mạch đã được báo cáo xảy ra ngay sau liều đầu tiên. Các trường hợp phù mạch đã được báo cáo xảy ra vào lúc vài giờ sau liều đầu tiên hoặc sau nhiều liều. Phù mạch liên quan đến đường hô hấp trên do triệu chứng sưng phù có thể đe dọa đến tính mạng. Nếu xảy ra sưng phù ở lưới, hầu dưới hoặc thanh quản, nên ngưng ngay solifenacin và phải điều trị bằng liệu pháp thích hợp và/hoặc dùng các biện pháp cần thiết kịp thời để bảo đảm thông thoáng đường thở.
Phản ứng phản vệ đã được báo cáo là hiếm gặp ở những bệnh nhân điều trị bằng solifenacin succinate.
Solifenacin succinate không nên sử dụng ở những bệnh nhân có tiền sử quá mẫn hoặc nghi ngờ quá mẫn với solifenacin succinate. Đối với những bệnh nhân bị phản ứng phản vệ, nên ngưng ngay solifenacin succinate và các biện pháp trị liệu thích hợp cần được thực hiện.
Bí tiểu: Solifenacin, cũng như các thuốc kháng cholinergic khác nên được dùng với sự thận trọng đối với những bệnh nhân có biểu hiện lâm sàng tắc nghẽn bàng quang rõ rệt vì nguy cơ bí tiểu.
Rối loạn về dạ dày ruột Solifenacin, cũng như các thuốc kháng cholinergic khác nên được dùng với sự thận trọng đối với những bệnh nhân suy giảm nhu động ruột
Solifenacin nên sử dụng với thận trọng trên những bệnh nhân rối loạn tắc nghẽn đường tiêu hóa.
Sử dụng solifenacin succinate thận trọng ở những bệnh nhân dị tật thoát vị/trào ngược dạ dày thực quản và/hoặc những người đang dùng các thuốc (ví dụ như bisphosphonates) có thể gây ra hoặc làm trầm trọng thêm viêm thực quản.
Các ảnh hưởng trên thần kinh trung ương
Solifenacin có liên quan đến các tác dụng kháng cholinergic trên hệ thần kinh trung ương. Một loạt các tác dụng kháng cholinergic trên TKTW đã được báo cáo, bao gồm nhức đầu, lú lẫn, ảo giác và buồn ngủ. Bệnh
nhân cần được theo dõi các dấu hiệu của tác dụng kháng cholinergic trên TKTW, đặc biệt là sau khi bắt đầu điều trị hoặc tăng liều. Khuyên bệnh nhân không nên lái xe hoặc vận hành máy móc hạng nặng cho đến khi họ biết solifenacin ảnh hưởng đến họ như thế nào. Nếu một bệnh nhân trải qua các tác dụng kháng cholinergic trên TKTW, việc giảm liều hoặc ngưng thuốc cần được xem xét đến.
Solifenacin nên được sử dụng với sự thận trọng ở những bệnh nhân có bệnh lý trên hệ thần kinh thực vật.
Bệnh tăng nhãn áp góc hẹp có kiểm soát
Sử dụng solifenacin thận trọng ở những bệnh nhân đang được điều trị bệnh tăng nhãn áp góc hẹp
Suy gan
Solifenacin nên được sử dụng thận trọng ở những bệnh nhân suy gan. Không khuyến cáo dùng liều solifenacin cao hơn 5mg trên những bệnh nhân suy gan mức độ trung bình (Child-Pugh B).
Không khuyến cáo dùng solifenacin trên những bệnh nhân suy gan nặng (Child-Pugh C)
Những bệnh nhân điều khiển xe hoặc máy móc, hoặc tham gia vào các công việc cần sự chú ý phải được báo trước về các tác dụng phụ có thể xảy ra như: Ngầy ngật, mờ mắt và chóng mặt.
Không có nghiên cứu đầy đủ và không được kiểm soát tốt trên phụ nữ có thai.
Sau khi cho chuột mang thai uống solifenacin succinate có đồng vị phóng xạ C14, chất có liên quan đến thuốc đã được báo cáo vượt qua hàng rào nhau thai. Không có độc tính trên phôi hay sinh quái thai đã được báo cáo trên chuột nhất được điều trị với mức phơi nhiễm cao gấp 1,2 lần (30 mg/kg/ngày) so với liều khuyến cáo cao nhất trên người (Maximum Recommended Human Dose - MRHD) là 10 mg.
Sử dụng solifenacin succinate trên chuột nhất mang thai ở liều 100mg/kg/ngày và cao hơn, phơi nhiễm cao gấp 3,6 lần so với MRHD, trong suốt thời kỳ chủ yếu của quá trình phát triển cơ quan, dẫn đến làm giảm khối lượng cơ thể thai nhi. Khi cho chuột nhất mang thai sử dụng liều gấp 7,9 lần (250 mg/kg/ngày) so với MRHD dẫn đến tăng tỉ lệ hở hàm ếch. Liều phơi nhiễm solifenacin succinate trong tử cung và khi cho bú gấp 3,6 lần so với MRHD (100mg/kg/ngày) dẫn đến làm giảm sự sống sót quanh thời điểm sinh và giai đoạn sau sinh, giảm sự tăng trọng
lượng cơ thể và làm chậm phát triển thể chất (mờ mắt và mở ống âm đạo).
Sự gia tăng tỉ lệ sinh non con đực trong những lứa chuột từ chuột con phơi nhiễm khi chuột mẹ sử dụng liều 250 mg/kg/ngày. Không có tác dụng độc trên phôi đã được báo cáo ở chuột cống khi cho sử dụng liều lên đến 50 mg/kg/ngày (phơi nhiễm <1 lần so với MRHD) hoặc trên thỏ khi cho sử dụng liều 50 mg/kg/ngày, phơi nhiễm gấp 1,8 lần so với MRHD. Vì các nghiên cứu trên động vật không phải luôn luôn có giá trị tiên đoán đáp ứng của con người, chỉ nên sử dụng solifenacin
succinate trong quá trình mang thai khi lợi ích cao hơn nguy cơ tiềm ẩn trên thai nhi.
Sau khi cho chuột nhất đang cho con bú uống solifenacin succinate có carbon đánh dấu phóng xạ C'*, hoạt tính phóng xạ đã được phát hiện trong sữa. Không quan sát thấy có sự bất lợi ở những con chuột nhất được điều trị với liều 30 mg/kg/ngày, phơi nhiễm gấp 1,2 lần so với liều khuyến cáo cao nhất trên người [MRHD]. Chuột con của những chuột nhất cái được điều trị với liều gấp 3,6 lần (100 mg/kg/ngày) so với [MRHD] hoặc hơn, cho thấy có sự giảm trong lượng cơ thể, tử
vong sau khi sinh hoặc làm chậm trẻ việc khơi phát các phản xạ và phát triển thể chất trong suốt thời kỳ bú sữa.
Không biết solifenacin có được bài tiết trong sữa người mẹ hay không. Bởi vì có nhiều thuốc được bài tiết qua sữa mẹ, cho nên solifenacin succinate không nên dùng trong suốt thời kỳ cho con bú. Một quyết định cần phải được thực hiện là hoặc cho trẻ ngừng bú, hoặc ngừng sử dụng
solifenacin succinate ở các bà mẹ đang cho con bú.
Các chất ức chế mạnh CYP3A4
Sau khi dùng 10mg solifenacin cùng với 400 mg ketoconazole, một chất ức chế mạnh CYP3A4, Cmax và AUC trung bình của solifenacin tăng tương ứng 1,5 và 2,7 lần. Do đó khuyến cáo sử dụng liều solifenacin không quá 5mg mỗi ngày khi dùng liều điều trị của ketoconazole, hoặc
thuốc ức chế mạnh CYP3A4 khác (ví dụ ritonavir, nelfinavir, itraconazole). Những ảnh hưởng của các chất ức chế CYP3A4 yếu hoặc trung bình đã không được nghiên cứu. Điều trị đồng thời solifenacin và một chất ức chế mạnh CYP3A4 là chống chỉ định ở bệnh nhân suy thận nặng hoặc suy gan trung bình.
Thuốc gây cảm ứng CYP3A4
Không có nghiên cứu in vivo báo cáo về việc đánh giá ảnh hưởng của thuốc gây cảm ứng CYP3A4 đến solifenacin. Nghiên cứu chuyển hóa thuốc in vitro đã đã được báo cáo đã chỉ ra rằng solifenacin là chất nền của CYP3A4. Do đó, thuốc gây cảm ứng CYP3A4 có thể làm giảm
nồng độ của solifenacin. Vì solifenacin được chuyển hóa bởi CYP3A4, tương tác về dược động học là có thể xảy ra với các chất nền khác của CYP3A4 với ái lực cao hơn (ví dụ verapamil, diltiazem) và các chất cảm ứng CYP3A4 (ví dụ rifampicin, phenytoin, carbamazepine).
Thuốc được chuyển hóa bởi Cytochrome P450
Ở nồng độ điều trị, solifenacin không ức chế CYP1A1/2, 2C9, 2C19, 2D6, hoặc 3A4 có nguồn gốc từ vi nhân gan người. Vì vậy, solifenacin không làm thay đổi độ thanh thải của các thuốc được chuyển hóa bởi các enzyme CYP này.
Warfarin
Solifenacin không có ảnh hưởng đáng kể trên dược động học của R-warfarin hoặc S-warfarin.
Thuốc tránh thai đường uống
Với sự hiện diện của solifenacin, không có sự thay đổi đáng kể về nồng độ trong huyết tương của các thuốc tránh thai đường uống dạng phối hợp (ethinyl estradiol/levonorgestrel).
Digoxin
Solifenacin không ảnh hưởng đáng kể đến dược động học của digoxin (0,125mg/ngày).
Tương tác dược lực học
Sử dụng đồng thời với các thuốc khác cũng có đặc tính kháng cholinergic có thể dẫn đến hiệu quả điều trị rõ rệt hơn và tăng cao tác dụng không mong muốn. Sau khi ngưng điều trị bằng solifenacin 1 tuần là khoảng thời gian cho phép trước khi bắt đầu điều trị bằng thuốc kháng cholinergic khác.
Tác dụng điều trị của solifenacin có thể bị giảm bởi việc sử dụng đồng thời với thuốc chủ vận thụ thể cholinergic.
Solifenacin có thể làm giảm tác dụng của các thuốc kích thích nhu động của dạ dày và đường ruột, như metoclopramide và cisapride.
Nơi khô ráo, tránh ánh sáng, nhiệt độ không quá 30°C.
Để ngoài tầm tay trẻ em.
Mọi thông tin trên đây chỉ mang tính chất tham khảo. Việc sử dụng thuốc phải tuân theo hướng dẫn của bác sĩ chuyên môn.
HỆ THỐNG 9 NHÀ THUỐC GS68 TRÊN TOÀN QUỐC
Xem danh sách